Tại Phú Yên, một giải pháp xử lý nước dựa trên sự cân bằng hệ sinh thái đang mang lại hiệu quả cao cho các trại nuôi tôm. Thay vì lạm dụng hóa chất, mô hình này tận dụng cá rô phi và rong biển làm hệ thống lọc tự nhiên để làm sạch môi trường.

Từ một dự án về bảo tồn môi trường và đa dạng sinh học ven biển, các nhà khoa học đã thử nghiệm và chứng minh được hiệu quả của phương pháp sinh học dùng rong biển và cá rô phi xử lý nước cho ao nuôi tôm.
Kết quả thực tế cho thấy đây không chỉ là giải pháp cải thiện môi trường sống cho tôm mà còn giúp người nuôi giảm bớt gánh nặng chi phí trong bối cảnh giá hóa chất và vật tư đầu vào ngày càng đắt đỏ.
Về nguyên lý vận hành, mô hình này tận dụng cơ chế chuỗi ăn tự nhiên để thiết lập một hệ thống tự làm sạch trong lòng ao nuôi. Cá rô phi đóng vai trò là mắt xích xử lý chất thải rắn, chuyên tiêu thụ các loại thức ăn dư thừa và mùn bã hữu cơ lắng đọng, ngăn chặn nguồn cơn gây ô nhiễm từ đáy ao. Trong khi đó, rong biển đảm nhận nhiệm vụ hấp thụ các dưỡng chất hòa tan như đạm và lân, vốn là những tác nhân chính khiến tảo bùng phát và làm biến đổi chất lượng nước. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa một bên xử lý chất thải thô và một bên lọc chất hóa học hòa tan đã tạo nên một môi trường nước ổn định, giúp tôm phát triển khỏe mạnh và giảm thiểu đáng kể tỷ lệ dịch bệnh.
Để triển khai mô hình, người nuôi có thể linh hoạt lựa chọn phương thức phù hợp với hạ tầng sẵn có của trang trại. Với những hệ thống có diện tích mặt nước lớn, phương án tối ưu là thiết lập một khu vực xử lý riêng biệt để thả cá rô phi và rong biển với mật độ tiêu chuẩn khoảng 3 con cá và 300g rong biển trên mỗi mét vuông, sau đó dẫn nước tuần hoàn trở lại ao tôm.
Đối với những ao nuôi không có điều kiện chia tách, giải pháp dùng lưới đăng thả cá trực tiếp trong ao tôm cũng mang lại hiệu quả tương đương. Các lồng lưới này có tính cơ động cao, cho phép người nuôi di chuyển đến những vùng nước có dấu hiệu ô nhiễm để xử lý tại chỗ mà không gây ảnh hưởng đến không gian vận động của đàn tôm.
Ghi nhận từ các hộ nuôi tại Phú Yên cho thấy nước ao khi áp dụng mô hình này luôn giữ được độ trong và màu sắc ổn định, tình trạng đục nước hay tảo nở hoa giảm hẳn so với phương pháp truyền thống. Bên cạnh lợi ích sống còn là bảo vệ đàn tôm, người dân còn có thêm nguồn thu nhập phụ từ việc thu hoạch cá rô phi thương phẩm sau mỗi vụ nuôi.
Dù không phải là một bước đột phá công nghệ quá phức tạp, nhưng việc tận dụng các quy luật tự nhiên để thay thế hóa chất đang được đánh giá là hướng đi thực tế, giúp người nuôi tôm thích ứng tốt hơn với các tiêu chuẩn khắt khe về môi trường và chất lượng sản phẩm hiện nay.
Hồng Hà